• Tiếng Việt
  • English

Fruit tree

QUY TRÌNH CANH TÁC CÂY THANH LONG BẰNG FUSA

Category: Fruit tree | Date Submitted: 2018-08-07

 

QUY TRÌNH TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY THANH LONG

BẰNG PHÂN HỮU CƠ VI SINH FUSA

 

 

 

A. ĐẶC TÍNH VÀ ĐIỀU KIỆN CANH TÁC PHÙ HỢP

1 Đặc tính

Thanh long có tên tiếng Anh là Pitahaya hay còn gọi Dragon fruit, là cây nhiệt đới thuộc họ xương rồng (Cactaceae), có nguồn gốc ở các vùng sa mạc thuộc Mehico và Colombia, về sau có trồng ở một số nước châu Phi và châu Á như Ma – đa – gas – ca, Sri-lan-ka, Việt Nam… Gần đây ở Thái Lan, Trung Quốc và Đài Loan đã bắt đầu trồng thanh long.

Cây Thanh Long có dạng thân leo, có rễ khí sinh, bám vào cây to hoặc trên bờ tường. Quả to hình trái xoan, nặng bình quân 300-500g. Quả thanh long có vị ngọt mát và hơi chua, có chất bổ máu, có giá trị xuất khẩu. Trong quả chín chứa trên 80% nước, độ Brix từ 13-15, hàm lượng đường tổng số 11-14%, hàm lượng chất đạm, chất béo và axit hữu cơ thấp, tương đối nhiều chất khoáng (Kali, Canxi, Magiê, Phốtpho) và Vitamin, đặc biệt là Vitamin c (8 mg/lOOg thịt quả).

Mùa thu hoạch thanh long ở Nam Bộ kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, rộ nhất từ tháng 5-8. Tuổi thọ trung bình 10 – 12 năm, nếu đất tốt và được chăm bón chu đáo có thể dài hơn, thích hợp khí hậu nắng nóng, chịu hạn giỏi, không chịu được úng.

Nhiệt độ thích hợp cho Thanh long sinh trưởng và phát triển từ 20 - 34oC. Trong điều kiện thời tiết có sương giá nhẹ với thời gian ngắn cũng sẽ gây ảnh hưởng cho cây Thanh long.

Cây Thanh long chịu ảnh hưởng của quang kỳ ra hoa trong điều kiện ngày dài cây sinh trưởng và phát triển tốt ở các nơi có ánh sáng đầy đủ thiếu ánh sáng thân cây ốm yếu. Tuy nhiên nếu cường độ ánh sáng quá cao nhiệt độ cao sẽ làm giảm khả năng sinh trưởng của Thanh long.

2. Sinh lý thực vật

2.2.1 Rễ:

Khác hẳn với chồi cành, rễ thanh long không mọng nước nên nó không phái là nơi tích trữ nước giúp cây chịu hạn. Cây thang long có hai loại rễ: địa sinh và khí sinh.

Rễ địa sinh phát triển từ phần lôi ở gốc hom. Sau khi đặt hom từ 10 - 20 ngày thì từ gốc hom xuất hiện các rễ tơ màu trắng, số lượng rễ tăng dần và kích thước của chúng cũng tăng dần theo tuổi cây, những rễ lớn đạt đường kính từ 1 - 2 cm. Rễ địa sinh có nhiệm vụ bám vào đất và hút các chất dinh dưỡng nuôi cây. Rễ phân bố chủ yếu ở tầng đất mặt (0 - 15 cm). Theo Gibson và Nobel (1986) thì rễ xuất hiện trong tầng đất từ 0 - 30 cm. ở các nơi đất xốp và có tưới nước rễ có thể mọc sâu hơn. Khi đất khô các rễ sợi sẽ chết đi, các rễ cái lớn hơn sẽ hóa bần làm giảm sự dẫn nước khoảng 10 lần để ngăn chặn sự mất nước vào đất thông qua rễ. Khi đất ẩm rễ lại mọc trở lại một cách dễ dàng.

Rễ khí sinh mọc dọc theo thân cây phần trên không, bám vào cây chống (trụ) để giúp cây leo lên giá đỡ. Những rễ khí sinh nằm gần đất sẽ đi dần xuống đất.

2.2.2 Thân (cành):

Thanh long được trồng ở nước ta có thân, cành trườn bò trên trụ đỡ (climbing cacti), trong khi ở một số nước trồng loại xương rồng thân cột (columnar cacti). Thân chứa nhiều nước nên nó có thể chịu hạn một thời gian dài. Thân, cành thường có ba cánh dẹp, xanh, hiếm khi có 4 cánh. ở các nước khác có thứ 3, 4, 5 cánh.

Tiết diện ngang cho thấy có hai phần: bên ngoài là nhu mô chứa diệp lục, bên trong là lõi cứng hình trụ. Mỗi cánh chia ra làm nhiều thùy có chiều dài 3 - 4cm. Đáy mỗi thùy có từ 3 - 5 gai ngắn. Chúng sử dụng CO2 trong quang hợp theo hệ CAM (Crassulacean Acid Metabolism) là một hệ thích hợp cho các cây mọc ở vùng sa mạc.

Mỗi năm cây cho từ 3 -  4 đợt cành. Đợt cành thứ nhất là cành mẹ của đợt cành thứ hai và cứ thế cành xếp thành hàng lớp trên đầu trụ. Trong mùa ra cành, khoảng thời gian giữa hai đợt ra cành từ 40 - 50 ngày. Số lượng cành trên cây tăng theo tuổi cây: cây một tuổi trung bình có độ 30 cành, hai tuổi độ 70 cành, ba tuổi độ 100 cành và bốn tuổi 130 cành. ở cây 5 - 6 tuổi chỉ duy trì độ 150 - 170 cành.

Chiều dài cành thanh long đo ở cuối vụ thu hoạch được trình bày như sau:

Tuổi cây

Trung bình

Dài nhất

Ngắn nhất

1

73cm

119cm

42cm

2

82cm

140cm

52cm

3

98cm

180cm

49cm

4

108cm

160cm

45cm

5

103cm

140cm

53cm

 

(Nguồn: Lý Ngọc Đính, BCTN, ĐHNL, 1992)

2.2.3 Hoa:

Thanh long là cây ngày dài (trường quang kỳ). Tại Nam bộ hao xuất hiện sớm nhất vào trung tuần tháng 3 dương lịch (DL) và kéo dài tới khoảng tháng 10 DL, rộ nhất từ tháng 5 DL tới tháng 8 DL. Trung bình có từ 4 - 6 đợt ra hoa rộ mỗi năm.

Hoa lưỡng tính, rất to, có chiều dài trung bình 25 - 35 cm, nhiều lá đài và cánh hoa dính nhau thành ống, nhiều tiểu nhị và 1 nhụy cái dài 18 - 24 cm, đường kính 5-8 mm, nuốm nhụy cái chia làm nhiều nhánh. Hoa thường nở tập trung từ 20 - 23 giờ đêm và đồng loạt trong vườn. Từ nở đến tàn kéo dài độ 2 - 3 ngày. Thời gian từ khi xuất hiện nụ tới hoa tàn độ 20 ngày. Các đợt nụ đầu tiên rụng từ 30% đến 40%, về sau tỉ lệ này giảm dần khi gặp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi.

2.2.4 Quả và hạt:

Sau khi hoa thụ, bầu noãn sẽ phát triển thành quả mọng (cactus pears), trong 10 ngày đầu tốc độ phát triển tương đối chậm, sau đó tăng rất nhanh về cả kích thước lẫn trọng lượng. Thời gian từ khi hoa thụ tới thu hoạch chỉ từ 22 - 25 ngày, trong thí nghiệm thắp đèn tạo quả trái vụ của Đỗ Văn Bảo thì thời gian này là 25 - 28 ngày. Như vậy thời gian phát triển của quả thanh long tương đối ngắn so với nhiều loại quả nhiệt đới khác như xoài, sầu riêng, chuối, dứa thường phải mất từ 85 tới 140 ngày.

Quả thanh long hình bầu dục có nhiều tai lá xanh (do phiến hoa còn lại), đầu quả lõm sâu tạo thành “hốc mũi”. Khi còn non vỏ quả màu xanh, lúc chín chuyển qua đỏ tím rồi đỏ đậm. Thịt quả màu trắng cho đại đa số thanh long trồng ở miền Nam Việt Nam.

Hạt: Mỗi quả có rất nhiều hột nhỏ, màu đen nằm trong khôi thịt quả màu trắng. Do hột nhỏ và mềm nên không làm phiền người ăn như hột của một số loại quả khác

3. Điều kiện canh tác phù hợp

3.1 Khí hậu

Thanh long là cây có nguồn gốc vùng nhiệt đới khô nên chịu nóng và chịu hạn tốt, tuy nhiên khả năng chịu úng của cây không cao. Nhiệt độ thích hợp nhất từ 21- 29°c, tối đa không quá 40°c. Đặc biệt thanh long rất yếu chịu lạnh, không chịu ẩm độ cao và mưa nhiều. Thích hợp trồng ở vùng có lượng mưa trung bình và có mùa khô rõ rệt. Thanh long ưa cường độ ánh sáng mạnh, nếu bị che nắng hoặc số giờ chiếu sáng ít thân cây nhỏ yếu và chậm ra hoa.

Để cây phát triển tốt, cho nhiều trái và trái to cần cung cấp đủ nước, nhất là trong thời kỳ phân hóa mầm hoa, ra hoa và kết trái. Nhu cầu về lượng mưa cho cây là 800 – 2.000 mm/năm, nếu vượt quá sẽ dẫn tới hiện tượng rụng hoa và thối trái. Cần có nguồn nước tưới chủ động trong mùa khô, không sử dụng các nguồn nước thải.

3.2 Đất đai

Cây thanh long không kén đất, cổ thể trồng trên nhiều loại đất như đất xám bạc màu (Bình Thuận), đất phèn (TP. Hồ Chí Minh), đất đỏ (Đồng Nai), đất thịt hoặc thịt pha cát (Tiền Giang, Long An). Điều chủ yếu là phải có tầng đất canh tác dày từ 30 – 50 cm trở lên, thoát nước trong mùa mưa và đủ nguồn nước tưới mùa khô.

Để trồng thanh long đạt hiệu quả cao, đất phải tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, đất phèn nhẹ hoặc đất phù sa phủ trên nền phèn có pH từ 5,5 đến 6,5; hàm lượng hữu cơ cao, không bị nhiễm mặn. 

Trước lúc quyết định đầu tư cần phân tích đất, nước. Vườn trồng phải cách khu công nghiệp, nghĩa trang, bệnh viện tối thiểu 500 m, đất không bị nhiễm kim loại nặng. Toàn bộ hồ sơ về vị trí lô đất và kết quả phân tích đất được lưu giữ tại HTX, nhóm sản xuất hoặc tại hộ gia đình có thể truy nguyên nguồn gốc theo yêu cầu.

Ở Bình Thuận, cây thanh long cũng trồng trên nhiều loại đất khác nhau, kể cả đất rửa trôi, bạc màu, đất ruộng lúa 1 vụ… Tuy vậy, thanh long vẫn phát triển tốt nếu được bón nhiều phân hữu cơ và lên liếp để nâng cao tầng đất mặt và thoát nước mùa mưa.

Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam khảo sát một số vườn trồng thanh long ở huyện Chợ Gạo (Tiền Giang), nơi trồng thanh long tập trung, cho thấy đất có tầng canh tác sâu 70 cm thành phần cơ giới chủ yếu là sét, N tổng số 0,07%, P tổng số 0,037%, P dễ tiêu 2,5 mg/100g, K tổng số ở mức trung bình, tỉ lệ mùn 3-4%, pH = 4,3. Các tỉnh phía Bắc nước ta ít trồng thanh long do có mùa đông lạnh kéo dài, mưa gió nhiều và có nhiều ngày ít nắng.

3.3 Yêu cầu dinh dưỡng

Cũng như các cây ăn quả khác, cây thanh long cần đầy đủ và cân đối các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng NPK và các nguyên tố trung vi lượng như Canxi (Ca), Magiê (Mg), Kẽm (Zn), Sắt (Fe), Đồng (Cu).

Trong thời gian đầu mới trồng và giai đoạn tạo cành, cây thanh long cần nhiều đạm (N) và lân (P) để giúp cây phát triển bộ rễ và thân cành, cây khỏe mạnh, xanh tốt, sớm cho quả. Thiếu đạm và lân cây cằn cỗi, cành nhỏ và ngắn, chuyển màu xanh vàng nhạt. Ngược lại nếu thừa đạm thì cành vươn dài, mềm yếu, chống chịu sâu bệnh kém, kéo dài thời gian sinh trưởng nên chậm ra hoa.

Kali (K) làm cho cây cứng rắn, tăng sức chống hạn, sớm ra quả, quả to và chất lượng tốt. Để tạo quả rải vụ, kali cùng vớí lân làm tăng tỉ lệ đậu hoa, đậu quả. Thiếu kali cây mềm yếu, cành chuyển màu vàng, có các vệt nâu, dễ bị sâu bệnh phá hại.

Các nguyên tố trung vi lượng rất cần cho thanh long để đạt năng suất cao, chất lượng tốt, có trong các loại phân hữu cơ và phân bón lá.

B.KỸ THUẬT CANH TÁC

1. Đất trồng :

Thanh Long dễ sống, dễ trồng, mọc được trên nhiều loại đất khác nhau như đất xấu, khô cằn, đất cát mặn, đồi, ruộng không ngập nước, nơi có nguồn nước tưới.

1.1 Trồng bằng mô

Đối với cây thanh long, trồng trên mô do điều kiện đất trồng thấp, mực thủy cấp cao nên rất dễ ảnh hưởng đến bộ rễ của cây, nhất là vào mùa mưa dễ bị ngập úng. Chính vì bộ rễ là nơi hút chất dinh dưỡng trong đất cung cấp cho cây sinh trưởng, phát triển, do vậy phải tạo điều kiện tốt cho rễ phát triển, nên vùng đất thấp cần đấp mô cao để trồng.

Những vùng đất thấp phải đắp mô trồng cao 30-35cm và rộng 50-60cm.

1.2 Trồng bằng hố

Trước khi đặt hom phải đào cạnh trụ một hố có kích thước 25 - 30cm, sâu 10 - 15 cm, rồi bón lót 5- 10 kg phân chuồng + 0,5 kg Super lân.

Hố trồng được đào cạnh bên trụ thanh long, sau đó kết hợp bón lót phân vô cơ và hữu cơ trước khi trồng.

Tùy điều kiện đất trồng mà có thể đào hố trồng vuông hoặc tròn, kết hợp bón lót phân vô cơ và hữu cơ, sau đó phủ lên một lớp đất trước khi trồng.

Những vùng đất cao, sau khi định vị kích thước rồi trồng trụ và sau đó trồng thanh long. Người dân thường ít chú ý đến khâu bón lót trước khi trồng. Điều nầy không tốt cho cây thanh long sau này. Vì bón lót sẽ tạo thức ăn dự trữ cho cây khi rễ phát triển sẽ sử dụng được ngay, vì vậy cây có điều kiện sinh trưởng tốt giai đoạn đầu.

2. Thời vụ:

Tùy theo từng địa phương, có thể trồng vào đầu vụ xuân hoặc cuối vụ  mưa. Tuy nhiên, cây thanh long có nguồn gốc nhiệt đới nên chịu hạn giỏi, nhưng không chịu được giá lạnh, vì thế cần ủ ấm cho cây vào mùađông.

- Thường trồng vào khoảng tháng 10-11 dương lịch, ưu điểm của vụ này là :

Nguồn hom giống dồi dào, trùng vào lúc tỉa cành sau thu hoạch.

Giai đoạn này là cuối mùa mưa, độ ẩm còn cao, cây sinh trưởng phát triển nhanh.

Ở những chân đất thấp, mùa vụ trồng này còn tránh được nguy cơ ngập úng nhưng cần phải đảm bảo có đủ nước tưới trong mùa khô.

Tuy nhiên trồng thanh long mùa này có nhược điểm là khi cây còn nhỏ, khả năng chống chịu nắng hạn kém, vì vậy cần phải tủ gốc bằng rơm, cỏ khô và thường xuyên tưới  nước cho cây trong mùa nắng.

- Ở những vùng thiếu nước tưới thì nên trồng vào đầu mùa mưa (tháng 5-6). Tuy nhiên xuống giống vào thời gian này sẽ gặp 1 số trở ngại là vì đây là thời điểm cây đang ra hoa và mang trái nên thiếu hom giống, cho nên phải có kế hoạch giâm hom chuẩn bị từ trước.

3. Mật độ khoảng cách trồng:

+ Cây thanh long là cây ưa sáng và cần nhiều ánh nắng, nên nếu trồng mật độ dày 2,5 x 2,5m (150-160 trụ/100m2) thì trái nhỏ, cành đan chéo nhau, khó đi lại chăm sóc vườn.

+ Trồng ở mật độ thấp 3,0 x 3,0m (100-110 trụ/1000m2) thì cây nhận nhiều ánh sáng, dễ đi lại trong vườn, trái lớn nhưng hiệu quả thắp đèn thấp (phải tăng số bóng đèn, chi phí cao). Mật độ tối ưu (được nhà vườn chấp nhận) là 2,8 x 2,8 m (127 -130 trụ/1000m2).

+ Với khoảng cách trồng: (3 x 3 x 3.5)m, hố đào sâu 20cm, rộng 20-30 cm, trồng 4-5 hom giống thanh long/trụ, độ dài hom giống 60-80cm.

 + Cây thanh long cần bám vào cây trụ nên việc chọn lựa trụ và chuẩn bị là công việc người lập vườn thanh long cần quan tâm trước tiên, chi phí về cây trụ chiếm tỉ lệ cao nhất trong số tiền đầu tư ban đầu. Loại gỗ được chọn thường là loại gỗ tết, chịu được nắng mưa, lâu mục. Loại được dùng nhiều là: căm xe Xylia dolabriformis Benth, cẩm Liên Xylia xylocarter Taub, Cà Chắc Pentaeme siamensis Kurs, Sao đen Hopea odorata Roxb.

+ Cây trụ thường được chọn có đường kính trên 25 cm, dài 2,5 - 2,7 m, sau khi chôn còn cao khoảng 2,0 m. Hiện nay, xu hướng của nông dân là hạ thấp trụ xuống, nghĩa là sau khi chôn trụ xong còn cao trung bình từ 1,6 m đến 1,8 m, còn đường kính sử dụng chỉ còn khoảng 15 cm. Nguyên nhân làm nông dân hạ thấp trụ và tận dụng cây có đường kính nhỏ là vì các loại gỗ tết hiếm và đắt, ngoài ra trụ cao khiến việc chăm sóc trở nên khó khăn hơn, tốn nhiều công hơn.

+ Trụ thấp có lợi:  giảm được tiền đầu tư ban đầu, cành thanh long mau lên đến đầu trụ, chăm sóc và thu hoạch dễ hơn. Qua nhiều năm cắt tỉa các cành nhánh chồng chất trên đầu trụ sẽ làm cây cao dần, việc dùng trụ thấp sẽ hãm bớt sự cao dần lên của cây. Nhưng hễ trụ thấp quá thì nhánh thanh long sẽ rũ xuống đất vừa tốn công cắt tỉa vừa ít quả do cành ngắn hơn. Việc trồng cây trụ cần tiến hành sớm, có thể trước thời vụ trồng một tháng.

+ Sau khi lấp đất cây trụ phải thẳng đứng, không lệch ngọn. Trên đầu mỗi trụ người ta đóng một cái khung bằng gỗ, một thanh ngang hay một vòng tròn,… cho thanh long dễ bám để khi đi tới đầu trụ cành thanh long sẽ rũ đầu xuống nên trông toàn tán cây có dạng một cái dù (bay dạng hình nấm).

+ Thanh long có khả năng thích ứng với các đất có độ chua (pH) rất khác nhau, nhưng do xuất xứ từ vùng khô hạn nên pH gần trung tính (trên dưới 6) sẽ thích hợp hơn cho cây phát triển.

 

  

                           A                                                             B                                                                C

(A) Trồng trụ trồng thanh Long; (B) Làm hố và trồng thanh Long; (C) Lên liếp trồng thanh Long.

4. Chọn Giống :

Đối với cây thanh long, cây giống cũng là yếu tố quan trọng cần đảm bảo:

- Chọn giống có nguồn gốc rõ ràng và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấyphép.

- Giống tự sản xuất phải có hồ sơ ghi chép đầy đủ quá trình xử lý: tên người xử lý, mục đích xử lý, hom giống, thời gian và thuốc BVTV sửdụng…

- Giống không tự sản xuất phải có hồ sơ ghi rõ: tên, địa chỉ tổ chức, cá nhân, thời gian cung cấp, số lượng, chủngloại…

- Chọn cành 12-24tháng tuổi (đã cho trái vụ trước, không nên chọn những cành vừa mới cho trái), khỏe, có màu xanh đậm, không bị sâu bệnh hoặc các tổn thương khác.

- Chiều dài cành từ 40 – 50 cm, phần gốc cành đã bắt đầu hoá gỗ được cắt bỏ phần vỏ khoảng 2 – 4 cm chỉ để lại lõi giúp nhanh ra rễ và tránh thối gốc.

- Các mắt trên cành có gai phảitốt, mẩy, khả năng nẩy chồi (mụt) tốt. Cành được giâm nơi thoáng mát khoảng 20-30 ngày ra rễ có thể đem trồng.

- Khi trồng đặt hom cạn 2-3 cm, đặt phần lõi (đã gọt bỏ lớp vỏ bên ngoài) xuống đất để tránh thối gốc, áp phần phẳng của hom vào mặt trụ tạo điều kiện thuận lợi cho cành ra rể và bám sát vào cây trụ. Sau khi trồng dùng dây cột hom vào trụ để tránh gió làm lung lay, đổ ngã. Mỗi trụ đặt 4 - 5 hom theo từng mặt trụ.

 


  
 

                                A                                                                            B                                                                           C

 Hình 1: (A) Vườn thanh long có thể được dùng làm giống; (B) Hom thanh long chuẩn bị trồng; (C) Hom thanh long được trồng vào bầu.

Thanh long ở Việt Nam có ba giống: dạng quả tròn, quả dài, quả chôm chôm (quả nhỏ). Dạng quả tùy thuộc vào điều kiện sinh thái, nhất là chế độ ánh sáng và chế độ chăm sóc.

+ Thanh long ruột trắng: loại này sinh trưởng và phát triển tốt ở những nơi có cường độ ánh sáng cao và toàn phần. Được trồng trên nhiều loại đất khác nhau như đất xám bạc màu, đất phèn,… là giống phổ biến hiện nay ở nước ta .

+ Thanh long ruột đỏ: loại này có yêu cầu về sinh trưởng và dinh dưỡng cao, vì vậy nên loại này rất khó trồng.

+ Thanh long ruột trắng (vỏ vàng): giống này có ưu điểm ít mẫn cảm với kiến, bệnh thán thư và nấm bồ hóng, màu vỏ quả đẹp và lạ, vị quả khá ngon. Nhược điểm của giống là cây sinh trưởng ở mức trung bình, quả nhỏ và vỏ quả có gai.

   

A                                           B                                              C                                                      D

Hình 2: (A) Thanh long vỏ đỏ, ruột trắng (Hylocereus andatus); (B) Thanh long vỏ đỏ, ruột đỏ (Hylocereus sp.); (C) Thanh long vỏ tím, ruột tím (Hylocereus sp.); (D) Thanh long vỏ vàng, ruột trắng (Hylocereus megalanthus).

 

C. TRỒNG VÀ CHĂM SÓC:

1 Sử dụng phân bón:

Áp dụng phương thức canh tác bằng phân hữu cơ vi sinh FUSA sẽ giúp cho người nông dân trồng và canh tác vườn thanh long dễ dàng và hiệu quả:

- Chú trọng cải tạo môi trường canh tác, cải tạo tăng cường độ phì nhiêu của đất, giúp cây trồng tự hấp thu dinh dưỡng cân đối, tăng cường khả năng đề kháng của cây, giảm thiểu tối đa việc sử dụng phân thuốc hóa học, đem lại môi trường canh tác an toàn cho người trồng lẫn người sử dụng sản phẩm.

- Tận dụng được các nguồn nguyên liệu hữu cơ tự nhiên từ các nguồn phân chuồng, xác bã thực vật trở thành phân bón cho cây trồng, giảm thiểu chi phí canh tác.

- Các sản phẩm phân hữu cơ vi sinh FUSA đều được Viện đánh giá vật liệu dùng cho canh tác Hữu cơ của Mỹ (OMRI) và Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cấp chứng nhận.

- Các loại phân bón khuyến cáo sử dụng:

TÊN SẢN PHẨM

HÌNH ẢNH SẢN PHẨM

CÔNG DỤNG

CÁCH SỬ DỤNG

Phân hữu cơ vi sinh

BIO SIMO

Cung cấp các loại dinh dưỡng hữu cơ cần thiết cho cây trồng và các chủng vi sinh vật có tính đối kháng nhằm hỗ trợ phát triển đề kháng của cây, tiêm chủng phòng trừ các loại nấm bệnh và côn trùng gây hại trong suốt quá trình sinh trưởng cây.

Dung dịch sau khi hoạt hóa (ủ sinh khối), có thể pha thêm lượng nước đủ dùng để tưới ướt từ cành xuống gốc.(Lưu ý: tránh tưới vào giai đoạn cây đang ra hoa, thụ phấn).

Phân hữu cơ vi sinh

EMZ – FUSA

Cung cấp các loại dinh dưỡng hữu cơ và  khoáng chất cần thiết cho cây trồng và các chủng vi sinh hỗ trợ cải tạo đất, chuyển hóa dinh dưỡng, cố định đạm, cân bằng pH, phát triển bộ rễ và giúp cây hấp thu dinh dưỡng một cách dễ dàng trong suốt quá trình sinh trưởng cây.

Dung dịch sau khi hoạt hóa (ủ sinh khối), có thể pha vào hệ thống tưới nhỏ giọt để cung cấp phân cho cây hoặc tưới vào gốc theo phạm vi tán.

Ngoài ra, có thể dùng dung dịch EMZ-FUSA để ủ hoai phân chuồng, bả thực vật trước khi bón cho cây.

Đạm cá

BIO NPK FISH HYDROSYLATE + KELP

Là nguồn cấp dinh dưỡng hữu cơ và các loại khoáng chất cần thiết cho cây trồng, giúp cây trồng phát triển các hoocmon nội sinh, tăng cường đề kháng và phát triển khỏe mạnh.

Pha loãng với nước (1 lít pha với 200-400l nước). Có thể đưa vào hệ thống tưới hoặc phun trực tiếp lên cành và đất.

(Ghi chú: Xem thêm hướng dẫn hoạt hóa phân hữu cơ vi sinh và cách ủ phân chuồng)


2 Giai đoạn bón và liều lượng sử dụng: Sử dụng phân hữu cơ vi sinh FUSA được chia thành 2 giai đoạn chính như sau:

2.1 Giai đoạn 1: giai đoạn kiến thiết cơ bản: được tính từ khi trồng mới đến khi cây được 2 năm tuổi. Trong giai đoạn này, cần tập trung giúp cây phát triển sinh trưởng khỏe mạnh, tăng cường đề kháng cho cây.

Quy trình bón phân và liều lượng bón trong giai đoạn này như sau:

LOẠI PHÂN SỬ DỤNG

LIỀU LƯỢNG VÀ THỜI ĐIỂM BÓN

NĂM THỨ 1

NĂM THỨ 2

Phân chuồng, phân xanh ủ hoai bằng EMZ-FUSA

Bón lót lúc mới trồng và lặp lại sau 06 tháng. Mỗi trụ 10-15kg.

Bón vào đầu và cuối mùa mưa. Mỗi trụ 12-15kg.

Phân vi sinh BIO SIMO

Bón lần đầu vào lúc 7 ngày sau khi trồng. Liều lượng 4 lít/ha.

Các lần tiếp theo cách nhau 2 tháng. Mỗi lần bón 2 lít/ha

1 Năm bón 15 lít/ha. Chia làm 4-6 lần bón/năm.

Phân vi sinh EMZ-FUSA

Bón sau mỗi lần bón BIO SIMO 7 ngày. Lần đầu bón 4 lít/ha. Các lần sau bón 2 lít/ha.

Bón sau mỗi lần bón BIO SIMO 7 ngày. Liều lượng sử dụng trong 1 năm là 15 lít/ha.

Phân BIO NPK FISH HYDROSYLATE + KELP

Mỗi tháng bón 1 lần, mỗi lần 2.5 lít/ha

Mỗi tháng bón 1 lần, mỗi lần 3 lít/ha

Lưu ý: Đối với nền đất bị trơ, thiếu dinh dưỡng thì ưu tiên sử dụng phân chuồng đã ủ hoai nhằm bổ sung lượng mùn cho đất. Đối với nền đất đã tơi xốp, có thể sử dụng phân hữu cơ vi sinh (phân công nghiệp) để thay thế.

2.2 Giai đoạn 2 Giai đoạn khai thác trái tính từ năm thứ 3 trở đi: Trong giai đoạn này, cần chú trọng bổ sung dinh dưỡng vào các thời kỳ ra hoa, đậu trái và sau thu hoạch nhằm bảo cây có đầy đủ dinh dưỡng và phát triển khỏe mạnh.

Quy trình bón phân và liều lượng bón trong giai đoạn này như sau:

LOẠI PHÂN SỬ DỤNG

LIỀU LƯỢNG VÀ THỜI ĐIỂM BÓN

NĂM THỨ 3

NĂM THỨ 4 trở đi

Phân chuồng, phân xanh ủ hoai bằng EMZ-FUSA

Hoặc có thể thay thế bằng phân hữu cơ vi sinh (dạng công nghiệp)

Bón vào đầu vụ làm trái. Mỗi lần cách nhau 03 tháng. Mỗi trụ từ 7 – 10kg/lần bón.

Trường hợp sử dụng phân hữu cơ vi sinh (dạng công nghiệp) thì theo khuyến cáo của nhà sản xuất

Bón vào đầu vụ làm trái. Mỗi lần cách nhau 03 tháng. Mỗi trụ 10kg/lần bón.

Trường hợp sử dụng phân hữu cơ vi sinh (dạng công nghiệp) thì theo khuyến cáo của nhà sản xuất

Phân vi sinh BIO SIMO

Mỗi tháng bón 1 lần. Mỗi lần 2 lít/ha.

Mỗi tháng bón 1 lần. Mỗi lần 2 lít/ha.

Phân vi sinh EMZ-FUSA

Mỗi tháng bón 1 lần. Mỗi lần 2 lít/ha.

Bón sau mỗi lần bón BIO SIMO 7 ngày

Mỗi tháng bón 1 lần. Mỗi lần 2 lít/ha.

Bón sau mỗi lần bón BIO SIMO 7 ngày

Phân BIO NPK FISH HYDROSYLATE + KELP

Mỗi tháng bón 1 lần, mỗi lần 4 lít/ha

Mỗi tháng bón 1 lần, mỗi lần 5 lít/ha

 

3 Tưới Nước

- Nước tưới rất quan trọng đối với cây thanh long, mặc dù đây là cây có nguồn gốc vùng khô hạn. Nhưng các nhà khoa học đã khẳng định nước tưới là tiền đề của năng suất, chất lượng cây trồng. Trong thành phần của cây trồng nước chiếm từ 80-90% vì vậy khi thiếu nước sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây nhất là giai đoạn ra hoa kết quả.

- Thanh long là cây có nguồn gốc nhiệt đới, chịu hạn giỏi, thường được trồng ở những vùng nóng nhiệt độ cao (có loài chịu được nhiệt độ lên đến 50 -55°C), thân cành có chứa hàm lượng nước lớn nên cây có thể chịu hạn trong một thời gian dài. Mặc dù vậy trong điều kiện thiếu nước và nắng hạn kéo dài cây sẽ mất sức, chậm sinh trưởng, giảm khả năng ra hao, đậu quả và năng suất sẽ giảm nhiều.

- Một số biểu hiện quan trọng của thanh long do thiếu nước là:

+ Cây phát trển chậm và cành mới hình thành ít.

+ Cành bị teo tóp và chuyển sang màu vàng.

+ Tỉ lệ rụng nụ, hoa (chạy nụ) ở các đợt hoa đầu tiên rất cao (> 80%).

+ Trái nhỏ, năng suất thấp.

Tùy theo ẩm độ đất... mà nhịp độ tưới thay đổi từ 3 - 7 ngày/lần.

Chế độ tưới hợp lý cho cây Thanh long trong điều kiện đủ nước:

- Giai đoạn cây con mới trồng chỉ tưới vừa đủ ẩm, có thể tưới 2-3 ngày một lần khoảng 5 lít nước/gốc (trụ).

- Giai đoạn phát triển: Giai đoạn kinh doanh cây cần nước rất cao, thân cây thanh long chứa nhiều nước, nên mỗi ngày nên tưới một lần, hoặc 2 ngày một lần, tưới ướt tòa bộ cây.

Cây 1 tuổi: mức tưới/lần ~23,3-29,5m3/ha; tổng mức tưới/năm ~725,4-842,6m3/ha

Cây 2 tuổi: mức tưới/lần ~36,5-44,1m3/ha; tổng mức tưới/năm ~1096,6-1379,7m3/ha

Cây 3 tuổi: mức tưới/lần ~52,5-61,6m3/ha; tổng mức tưới/năm ~1535,9-1803,0m3/ha

- Giai đoạn cây chuẩn bị ra hoa kết trái thì nhu cầu nước rất cao (trừ lúc trước ra hoa 2-3 tuần không cần tưới nước, để cây chuẩn bị ra hoa), tưới ướt toàn cây.

- Giai đoạn cây ra hoa phải cung cấp đủ nước tưới cho cây, nhất là chú ý đến chất lượng nước tưới không nhiễm phèn, mặn, hoặc ô nhiễm. Giai đoạn này tránh tưới ướt hoa vì có thể làm hoa bị thối, hư.

- Giai đoạn mang trái là giai đoạn cần nhiều nước nhất của cây thanh long, vì cây vừa phát triển, vừa nuôi trái, nếu thiếu trong giai đoạn này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, chất lượng. Mỗi ngày tưới một lần, tưới ướt cả cây.

- Hiện nay, việc xử đèn vụ nghịch được chú ý, và vụ này thường rơi vào giai đoạn cuối mùa mưa đầu mùa hạn, nên để sản xuất trái vụ đèn hiệu quả thì cần chủ động nước tưới cho vườn là một yêu cầu quyết định. Sử dụng nguồn nước sạch và bền vững để tưới cho vườn thanh long, nước tưới được lấy/bơm từ kênh, mương thuỷ lợi của địa phương.

- Ngoài việc chủ động nguồn nước tưới cho vườn thanh long, việc tủ gốc giữ ẩm cũng  có thể khắc phục được hiện tượng thiếu nước tưới cho vùng trồng thanh long nhất là ở những vùng có mùa khô hạn kéo dài. Có thể sử dụng rơm, cỏ khô, bèo lục bình để tủ gốc và có thể tủ quanh gốc hay phủ trên toàn bộ mặt liếp.

- Ở những vùng khan hiếm vật liệu tủ gốc có thể tận dụng nguồn cành thanh long sau khi tỉa cành để làm vật liệu tủ gốc giữ ẩm, tuy nhiên cành dùng để tủ gốc không được mang mầm bệnh. Tủ gốc giữ ẩm  vừa là biện pháp hữu hiệu để trừ cỏ gốc, sau một thời gian vật liệu tủ gốc sẽ bị phân huỷ tạo  ra lớp thảm mục giúp cải tạo đất. Cũng có thể kết hợp tiến hành tủ gốc cho thanh long ngay sau khi bón phân hữu cơ để tránh được sự phân huỷ nhanh hàm lượng mùn trong phân hữu cơ dưới ánh nắng trực tiếp.

4. CHĂM SÓC

4.1 TỈA CÀNH THANH LONG

- Sau khi trồng 2-3 tuần, từ những gai trên thân hom thanh long sẽ cho ra nhiều nhánh. Cần phải tỉa bỏ những ốm yếu, nhỏ, nhánh nảy ngang (thường gọi là nhánh tai chuột) những nhánh này sẽ không phát triển dài và không có khả năng cho trái sau này. Tốt nhất nên tỉa bỏ một số chồi/cành chừa lại 3 -4 nhánh có bẹ to, khoẻ cho leo lên giàn trụ để tạo tán sau này.

- Khi cành dài vượt khỏi đỉnh trụ khoảng 30-40 cm tiến hành uốn cành nằm xuống đỉnh trụ. Nên thực hiện vào lúc trưa nắng, khi đó cành mềm dễ uốn cong xuống, có thể dùng dây ni lông để buộc lại để tạo tán cây hình dù. Biện pháp này còn giúp cây mau ra chối mới.

- Từ năm thứ 2 cần tiến hành tỉa nhẹ đồng thời tạo tán và định hình cho cây. Tới cuối năm thứ 3 mỗi trụ trung bình chỉ chừa khoảng 100 cành, lúc này trên đầu trụ số cành đã phân bố khá dày. Một số cành già đã từng cho trái trong những năm đầu, nằm khuất bên trong, nếu giữ lại sẽ không cho trái hoặc cho trái nhỏ, cần phải tỉa bớt làm thông thoáng tán cây và giúp cây tập trung dinh dưỡng nuôi cà nh mới. Tỉa cành cho thanh long giai đoạn kinh doanh được chia làm 3 cách như sau:

Tỉa đầu: Thực hiện sau đợt thu hoạch trái hoặc ngay trước lúc thu đợt trái cuối cùng (thường vào khoảng tháng 8 hoặc đầu tháng 9). Đợt tỉa này loại bỏ 2/3 số cành già , cành ốm yếu và sâu bệnh nằm khuất bên trong tán, chỉ giữ lại những cành  tốt  (khoảng 60% tổng số cành trước khi tỉa). Cách tỉa là dùng liềm hoặc dao chặt ¾ chiều dài cành cần tỉa bỏ (cách gốc cành 30cm), các tượt non sẽ nảy ra từ phần gốc cành giữ lại. Thời gian sau, tiếp tục tuyển 1-2 chồi mới, phát triển tốt, khoảng cách giữa 2 chồi mới xa nhau giữ lại, các chồi còn lại tỉa bỏ.

Ưu điểm: dễ thực hiện, nhanh, ít tốn kém thời gian và công lao động.

Nhược điểm: sau nhiều năm các gốc cành chừa lại sau tỉa s ẽ chồng lên nhau và làm cho bụi thanh long bị đôn cao lên.

Tỉa lựa: Trong quá trình chăm sóc vườn hoặc sau những đợt bón phân thúc, khi phát hiện xuất hiện những cành ốm yếu, sâu bệnh, nên tỉa bỏ để tập trung dinh dưỡng nuối cành tơ hoặc trái. Chọn những cành cần tỉa dùng dao, liềm dựt khỏi cây.

Ưu điểm: tạo được sự thông thoáng cho bụi thanh long, qua nhiều năm trụ không bị đôn cao lên và giữ được sự cân đối giữa các cành của tán cây.

Nhược điểm: tốn nhiều công lao động.

Tỉa sửa cành:  Khi cây đã cho trái ổn định, trên các cành này vẫn tiếp tục mọc ra một số cành non cần phải tiến hành tỉa bỏ những cành mới ra nà để cây tập trung dinh dưỡng nuôi  trái. Đồng thời tỉa sửa cành cũng là biện pháp để kiểm soát số cành con trên cành mẹ (cành sừng trâu). Trên cành mẹ chỉ nên giữ lại 1 -2 cành con mập, khỏ và các cành con này phải cách xa nhau, phân bố đều để tránh lệch tán, tránh hiện tượng mọc loà xoà chiếm lối đi.

- Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, cành nhánh có thể mọc lệch,  tập trung về một bên, vì vậy trong khi chăm sóc vườn nên thường xuyên sắp xếp lại cho cành nhánh phân bố đều về các hướng, tránh tình trạng chỗ nhiều nhánh chỗ thưa làm cho cây nhận ánh sáng không đồng đều. Những dây thanh long phát triển dài quá mức cũng cần cắt ngắn  cách mặt đất khoảng 40cm, nhằm tránh hiện tượng trái ở đầu cành tiếp xúc với mặt đất.

- Chú ý: Do xu thế chung hiện nay là sản xuất trái thanh long vụ nghịch (vụ đèn), một số cành già thường bị tỉa bỏ nay được giữ lại để sản xuất vụ đèn.Việc chọn phương pháp tỉa lựa hay  tỉa đau tuỳ thuộc vào điều kiện canh tác và tuổi vườn mà không làm ảnh hưởng đến năng suất và hiệu suất kinh tế.

Trong mùa ra cành, khoảng thời gian giữa hai đợt ra cành từ 40-50 ngày. Số lượng cành trên cây cũng tăng theo tuổi cây, cây một tuổi trung bình có khoảng 30 cành, cây 2 tuổi có khoảng 70 cành, ba đến bốn tuổi khoảng 100 –130 cành, cây 5-6 tuổi nên duy trì 150 -170 cành.

4.2 CHE TỦ GIỮ ẨM

Sau khi trồng xong, nên che tủ cho mô trồng: vừa trừ cỏ mọc trong gốc, vừa giữ ẩm, nhất là ở các vùng có mùa khô kéo dài và thiếu nước tưới. Dùng rơm, cỏ khô, xơ dừa... để tủ. Có thể tủ quanh gốc hay tủ toàn bộ liếp. Trong dài hạn ở những vùng có cỏ nhiều, giá nhân công đắt nên áp dụng phủ bạt như ngành trồng dưa hấu và trồng thơm đã làm.

Một loại cây trồng che phủ đất họ đậu (hoàng lạc, cỏ đậu, cây đậu dại...) dùng cây này che phủ đất tại vườn thanh long

Cây cỏ đậu (hoàng lạc)

Trồng cây cỏ đậu (hoàng lạc)

 

Vệ sinh quanh mô trồng

Cây cỏ đậu phủ xanh vườn trồng thanh long, góp phần giữ ẩm cho vườn

Cây mới trồng có thể tùy điều kiện từng địa phương để chọn vật liệu phủ gốc giữ ẩm, các tỉnh ĐBSCL có thể tận dụng bột xơ dừa phủ gốc lúc mới trồng hoặc mùa nắng.

Sự phát triển của cây cỏ đậu trong vườn thanh long

Che tủ cây sau trồng bằng bột xơ dừa

Vật liệu phủ gốc bằng rơm rạ khô, cỏ khô.

Che tủ cây sau trồng bằng rơm

Che tủ cây sau trồng bằng bột xơ dừa

Che tủ gốc vào mùa nắng có thể sử dụng thêm vật liệu, để vừa giữ ẩm vừa làm phân hữu cơ cho cây sau này

Một số địa phương đã kết hợp trồng xen cây đu đủ, vừa che bớt nắng giai đoạn đầu, vừa tăng hiệu quả kinh tế của vườn trồng mới thanh long

Trồng xem cây đu đủ trong vườn thanh long trồng mới để hạn chế cỏ dại

Kết hợp trồng xen cây ớt, vừa che bớt nắng giai đoạn đầu, vừa tăng hiệu quả kinh tế

Tại Bình Thuận số giờ nắng rất cao, nhất là mùa nắng, vì vậy có thể tận dụng bột xơ dừa, cỏ khô tủ gốc giữ ẩm vào mùa này rất tốt, giảm bớt áp lực nước tưới cho cây

Trồng xem cây ớt để hạn chế cỏ dại

Phủ gốc cây thanh long trưởng thành tại Bình Thuận bằng bột xơ dừa

 

4.3.KÍCH THÍCH RA HOA

- Đã có một số nghiên cứu biện pháp điều khiển ra hoa thanh long như bằng hoá chất (KNO3), bằng ánh sáng đèn. Trong đó biện pháp xử lý ra hoa vụ nghịch bằng chiếu đèn đem lại hiệu quả cao và hiện đang được áp dụng phổ biến. Do thanh long là cây ngày dài, cây chỉ  ra hoa trong điều kiện ngày dài hơn đêm. Trên cơ sở này có thể điều khiển cây thanh long ra hoa bằng cách chiếu sáng bằng ánh sáng đèn để cắt đêm dài.

Nguồn điện thắp sáng:  Có 2 nguồn điện chủ yếu có thể sử dụng là dùng nguồn điện lưới quốc gia (điện bình) hay chạy máy phát điện. Nguồn điện lưới quốc gia hiện nay khá ổn định, và với nguồn điện này có thể sử dụng bóng đèn 20 - 75 Watt để thắp sáng.

Loại bóng đèn, công suất và cách treo bóng đèn :  Như đã trình bày phần trên, sử dụng bóng đèn 75 Watt để thắp sáng xử lý ra hoa là khá phổ biến. Hiện nay trong tình hình nguồn năng lượng điện đang thiếu hụt thì việc sử dụng bóng đèn compact (20 Watt) để xử lý ra hoa nghịch vụ cho thanh long là một phương pháp tiết kiệm điện.

Cách treo bóng :  Bóng đèn được treo giữa 2 trụ làm thành hàng, cách mặt đất từ 0,7 m tới 1,2 m. Có thể thắp 1 bóng đèn giữa mỗi 4 trụ, trong t rường hợp vườn trồng dày, nhưng thường kém hiệu quả. Nên câu điện thắp sáng luân phiên cho các phía của cây để cây nhận được ánh sáng đồng đều.

Thời gian thắp sáng:  Một số kết quả điều tra cho thấy có đến 85% số vườn thắp đèn từ 8-10 giờ/đêm và liên tục từ 15 đến 20 đêm tuỳ theo mùa và điều kiện thời tiết, cụ thể là lúc ngắn ngày (đêm dài) thì phải thắp đèn nhiều đêm hơn lúc ngày tương đối dài hơn. Vào tháng hai, có thể rút ngắn thời gian thắp sáng xuống còn 7 giờ/đêm và kéo dài chỉ từ 10 tới 12 đêm.

- Sau khi ngưng thắp đèn 3-5 ngày, nụ hoa sẽ bắt đầu xuất hiện và cần khoảng 20 -21 ngày để hoa phát triển và 3 ngày để hoa nở và thụ phấn, sau đó cần từ 25 đến 28 ngày để quả phát triển và chín. Như vậy tính từ ngày xuất hiện nụ, cần khoảng 50 -52 ngày để thu hoạch và khoảng thời gian này là dài hay ngắn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khi hậu nơi trồng.

5. MỘT SỐ SÂU BỆNH TRÊN CÂY THANH LONG

5.1 Côn trùng

Kiến: cắn, đục khoét làm hư hom giống và các cành thanh long non, cắn mất tai lá trên trái, gây tổn thương vỏ trái, đây là loại côn trùng dễ phòng trừ.

Bọ xít: hại thanh long từ khi có nụ hoa đến khi trái hình thành, chúng  chích hút nhựa, để lại những vết chích rất nhỏ nhưng đến khi quả chín nơi các vết chích sẽ xuất hiện một chấm đen, mất giá trị xuất khẩu. .

Ruồi vàng hay ruồi trái cây (Dacus dorsalis): là đối tượng nguy hiểm đang được báo động hiện nay. Trưởng thành chích và đẻ trứng vào quả gây thoái hóa phần thịt quả và phần nhựa chảy ra ngoài vỏ làm quả thanh long bị hư, không xuất vườn được. Là đối tượng mới xuất hiện trên thanh long nhưng ruồi trái cây đã phá rất nhiều loại quả ở nước ta vì thế cần chú ý phòng trừ. Cần vệ sinh đồng ruộng như thu dọn và hủy các quả rụng.

5.2 Bệnh

Bệnh thối đầu cành: ngọn cành thanh long chuyển màu vàng, rồi mềm, sau đó thối. Cây tăng trưởng chậm, số cành giảm hẳn. Bệnh hay xảy ra vào cuối mùa nắng. Bệnh xảy ra không những trên đất phèn (đất thấp) mà còn cả trên đất cao nữa. Nguyên nhân chính là do nấm Alternaria sp. gây ra.

Bệnh đốm nâu trên cành: thân cành thanh long có những đốm tròn như mắt của màu nâu. Vết bệnh nằm rải rác hoặc tập trung, thường kéo dài thành từng vệt dọc theo thân cành. Có nhiều vết acervulus tròn đen năm rải rác. Tác nhân là nấm Gloeosporium agaves. Thuộc họ Nectrioidaceae, Bộ Melanconialea, Lớp Deuteromycetes.

Bệnh nám cành: trên thân cành có một lớp màng mỏng màu xám tro, nhám. Tác nhân là nấm Macssonina agaves Syd và Sphaceloma sp. Họ Nectrioidaceae, Bộ Melanconiales, Lớp Deuteromycetes. Biện pháp phòng trị chung cho các bệnh thanh long là vệ sinh đồng ruộng, chống úng và chống hạn cho cây. Ngoài sâu bệnh kể trên thanh long còn bị dơi, chim, chuột phá hoại quả nữa.

5.3 Các hiện tượng sinh lý

Hiện tượng rụng nụ: xuất hiện khi số nụ trên cành nhiều. Sau khi nụ xuất hiện 5 - 7 ngày thì nụ không phát triển nữa, vàng rồi rụng. Tỷ lệ rụng từ 10% đến 20%. Cây tự quân bình sinh lý để nuôi quả còn lại trên cây. Để hạn chế sự rụng quả sinh lý cần bón phân tưới nước đầy đủ và quân bình.

Hiện tượng nứt vỏ trái: do thời tiết, trời hạn ở giai đoạn vỏ quả phát triển, sau đó mưa nhiều hoặc tưới nhiều vào lúc ruột qua phát triển nên quả nứt. Mặt khác, do nhà vườn treo quả lâu đợi dịp có giá mới bán. Để hạn chế nên kiểm soát độ ẩm đất, không để vườn khô hạn trong thời kỳ cây nuôi quả.

6. THU HOẠCH

Để cây thanh long mau lớn và đạt sản lượng cao phải che đậy cẩn thận để giữ gìn bộ rễ không để tổn thương do ánh nắng mặt trời, do úng nước, gió bão,... Đồng thời cắt xén những cành cây không thể mọc mầm và ra quả ngắt bớt hoa và theo dõi tình hình hoa nở và kết quả, mỗi cành nên để 3 – 4 quả.

Cần chống nóng với những cây con mới trồng. Hàng năm trước khi vào mùa đông, khi bón phân phải thêm kali chống rét cho cây, đồng thời che đậy để giữ độ ẩm,...

Thu hoạch: sau khi trái chuyển màu từ xanh qua đỏ được độ 3 ngày thì dùng liềm hay dao cắt. Khi cắt đi dọc theo hàng, lựa quả đúng tiêu chuẩn cắt rồi xếp vào một cái gùi. Khi đầy gùi thì chuyển ra đầu hàng người khác cho vào cần xé xếp theo từng lớp có lót giấy, rơm hoặc lá chuối, sau đó vận chuyển đến nơi thu mua.

Thanh long chín lần 1, nếu không thu, thì 1 tuần sau trái sẽ xanh trở lại. Sau đó, sẽ chín đỏ một lần nữa. Với những trái đã chín lần 2, lần 3, độ ngọt sẽ nồng hơn, vỏ mỏng đi rất nhiều so với trái chín lần một, thịt trái giảm độ giòn, nhưng các chất dinh dưỡng lại nhiềuhơn.

Tuỳ theo thị trường, quả có thể thu hoạch từ 29 đến 31 ngày sau khi hoa nở.

 

 

Tiêu chuẩn trái xuất khẩu:  Trái có trọng lượng lớn, chuyển màu đỏ được 2 - 3 ngày, ngoại hình đẹp, vỏ không bị trầy sướt, các tai lá trên quả còn xanh tươi, không có vết chích của côn trùng, không có vết bệnh và không có bất cứ tồn dư thuốc hóa học nào trên ngưỡng cho phép để bảo đảm sức khỏe cho người tiêu dùng.

Trái tiêu thụ trong nước:Thường được thu hái trễ hơn nên quả nặng, to hơn, và ngọt hơn thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng trong nước. Việc thu hoạch tiến hành giống như khi thu xuất khẩu nhưng không cần xử lý đóng thùng, chỉ cho vào cần xé, may miệng lại rồi chở đến nơi tiêu thụ.

Sơ chế xuất khẩu

- Phân loại quả theo trọng lượng, có thể sử dụng thang phân loại do Phân Viện Công nghệ Sau Thu Hoạch dự thảo theo đó quả thanh long được phân làm 4 loại: loại l trên 500 g, loại 2 từ 380 g đến 500 g, loại 3 từ 300 g đến 380 g và loại 4 nhỏ hơn 300 g. Theo cách phân loại này thì các loại quả từ hạng 3 trở lên đều có thể xuất khẩu được.

- Xử lý trừ nấm: quả được xếp ra sàn tối đa là 5 lớp, không nên chất đống, sau đó quả được xử lý bằng cách nhúng quả vào thau đựng nước thuốc trừ nấm (chẳng hạn Topsin M . . .), xếp quả qua một bên, quạt gió cho khô tối thiểu 15 phút, rồi đóng thùng.

Đóng thùng: thùng carton đựng thanh long có kích thước 46 x 31 x 13 cm, làm bằng giấy carton gồm 3 lớp dày 5 mm, thùng có 10 lỗ thông gió kích thước 2,5 cm x 4 cm, bố trí đối xứng. Bên trong thùng có vách ngăn cho từng quả một. Trọng lượng thùng là 750 g. Quả được bọc bằng bao PE có 10 lỗ thông gió đường kính là 5mm hay tết hơn nên bọc bằng lưới Polystyren, như vậy sẽ tránh được trầy sướt khi chuyên chở. Trọng lượng tịnh (quả) là 5 - 5,2 kg.

Tồn trữ, chuyên chở: do quả thanh long dễ hư, khi xuất khẩu cần chuyên chở nhanh bằng tàu lạnh.

Khi chuyên chở xa bằng tàu thì các thùng thanh long phải làm lạnh trước ở nhiệt độ 8oC Sau đó cho vào container giữ ở nhiệt độ 5oC, ẩm độ không khí từ 85% đến 90%, có ván lót để bảo đảm thông gió.

Thị trường tiêu thụ hiện nay là Taiwan, Singapore, Hongkong, Nhật Bản,... và vài nước Âu châu mua với số lượng ít. Vườn chăm sóc tốt có khoảng 70 - 80% số trái đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, giá xuất khẩu gấp độ 1,5 lần giá nội địa.

Năng suất

Sau một năm trồng thì thanh long bắt đầu cho trái bói, các năm thứ 3, 4, 5 là những năm có năng suất cao. Từ năm thứ 6 trở đi năng suất bắt đầu giảm từ từ. Một cách tổng quát trong điều kiện thanh long ra hoa tự nhiên, năm thứ l năng suất độ 3 kg quả/trụ, năm thứ 2: 10 - 15 kg/trụ, năm thứ 3: 30 kg/trụ, năm thứ tư 40 - 45 kg/trụ, sau đó giảm từ từ tới năm thứ 12 còn độ 20 - 25 kg/trụ. Việc chăm bón tốt, thời tiết thuận lợi sẽ làm năng suất cao và ổn định nhiều năm.

 

Một số lưu ý trong canh tác thanh long theo hướng an toàn

Không sử dụng phân chuồng tươi (không qua ủ và chưa hoai mục hoàn toàn) để bón trực tiếp cho thanh long.

Nên bón phân chuồng trước mỗi vụ thuận và vụ nghịch, tránh sử dụng phân chuồng cho vườn thanh long khi cây đang mang trái, đặc biệt giai đoạn trái gần thu hoạch.

Nếu nhà vườn tự ủ phân chuồng thì cần phải xây dựng và đặt bể ủ phân đảm bảo cách

ly, không gây ô nhiễm cho vườn trồng và nguồn nước.

Thường xuyên cắt ngắn cành thanh long, đầu cành thanh long phải cách mặt đất ít nhất

từ 30-40cm để hạn chế trái tiếp xúc mặt đất.

Không được sử dụng nước thải sinh hoạt chưa qua xử l ý để tưới cho thanh long. Tránh tưới trực tiếp lên trái nếu nguồn nước không đảm bảo.

Trong vụ thuận, do cây ra hoa và trái liên tục, nên cần phải có thời gian cách ly tối

thiểu 5-7 ngày trước thu hoạch đối với việc bón phân hoá học cho từng đợt trái.

Không để phân hoá học và phân chuồng tiếp xúc hay dính vào trái thanh long trong quá trình bón phân.

Không quá lạm dụng sự dụng các chất điều hoà sinh trưởng (GA3) và phân bón lá, phải có thời gian cách ly tối thiểu, tức lần phun cuối cùng trước thu hoạch tối thiểu là 5 ngày.

Tham khảo : Camnangcaytrong, syngenta,...


098 999 5847
BioCo Agriculture